
Ở người trưởng thành, 4-6% nước của cơ thể được bài tiết và thay thế mới hàng ngày, trong khi ở trẻ em là 15%. Nói đến dinh dưỡng thì không thể không nhắc đến nước. Vai trò của nước vô cùng quan trọng với sức khỏe con người.
Trong cơ thể, nước thực hiện 4 vai trò chính:
a. Là dung môi của các phản ứng hóa học trong cơ thể:
Dung
môi là một dịch lỏng để hòa tan nhiều chất hóa học khác nhau, nước là
dung môi sống. Không có dung môi nước, rất ít các phản ứng hóa học có
thể xảy ra, các chức năng sống của cơ thể sẽ không thể điều hòa và thực
hiện được. Nhờ việc hòa tan trong dung môi trong hoặc ngoài tế bào, mà
các chất hóa học của cơ thể sống có thể tồn tại và linh động thực hiện
các chức năng cho cuộc sống.
Khi
chúng ta ăn uống, thực phẩm vào cơ thể sẽ tiếp xúc ngay với các dịch
tiêu hóa (Chứa nhiều nước) trong nước bọt, dạ dày, ruột.

Thực
phẩm được nhào trộn và phản ứng với các chất hóa học thực hiện chức
năng tiêu hóa. Các chất dinh dưỡng sẽ được hấp thu vào máu, máu chứa
khoảng 3 lít nước. Nước trong mạch máu giúp cho máu có dạng lỏng và hòa
tan các chất dinh dưỡng, vận chuyển chúng đến các mô và tế bào của cơ
thể. Nước trong mạch máu còn có vai trò quan trọng trong việc vận chuyển
nhiều chất quan trọng khác như hormon, các kháng thể từ nơi tổng hợp
đến tận cơ quan sử dụng chúng. Những chất thừa sinh ra trong quá trình
chuyển hóa, như carbon, ure…cũng được hòa tan trong nước của máu và được vận chuyển đến phổi và thận để bài tiết ra ngoài.
Có
khoảng 12 lít nước gian bào, nơi chứa các chất dinh dưỡng do mạch máu
chuyển đến, sau đó sẽ đi qua màng tế bào vào cơ thể. Những sản phẩm thừa
của quá trình chuyển hóa trong tế bào sẽ đi theo con đường ngược lại để
ra khỏi tế bào. Nước trong tế bào là một môi trường để các chất dinh
dưỡng tham gia vào các phản ứng sinh hóa nhằm xây dựng và duy trì tế
bào. Nước cũng là môi trường để các chất chuyển hóa được vận chuyển từ
các cơ quan khác nhau trong tế bào, tạo nên môi trường thuận lợi cho các
phản ứng xảy ra trong tế bào.
b. Là chất phản ứng:
Các
chất tham gia vào phản ứng hóa học được gọi là chất phản ứng, trong quá
trình hoạt động chất phản ứng biến đổi và tham gia vào sản phẩm. Nước
là một chất phản ứng tham gia trực tiếp vào các phản ứng khác nhau của
cơ thể. VD: Phản ứng thủy phân, trong đó các phân tử có trọng lượng lớn
như polysaccharide, chất béo, protein, được phân cắt thành các phân tử
nhỏ hơn khi phản ứng với nước.
c. Là chất bôi trơn:
Nước
có tác dụng bôi trơn quan trọng của cơ thể, đặc biệt là nơi tiếp xúc
các đầu nối, bao hoạt dịch và màng bao, tạo nên sự linh động tại đầu
xương và sụn, màng phổi, cơ hoành, miệng…
d. Điều hòa nhiệt độ:
Nước
có một vai trò quan trọng trong việc phân phối hơi nóng của cơ thể
thông qua việc phân phối nhiệt độ cơ thể. Hơi nóng sinh ra do quá trình
chuyển hóa, oxy hóa sinh năng lượng của các chất dinh dưỡng. Năng lượng
sinh ra có tác dụng duy trì nhiệt độ cơ thể ở 37 độ và giúp cơ thể thực
hiện các hoạt động thể lực. Nhiệt độ sinh ra thường vượt quá nhu cầu duy
trì nhiệt độ của cơ thể, nhiệt độ thừa sẽ được tỏa ra ngoài theo đường
truyền trực tiếp hoặc phát nhiệt, một trong những cách tỏa nhiệt có hiệu
quả là qua đường hô hấp và qua da. Khi nước bay hơi từ dạng nước sang
dạng hơi, chúng hấp thu và mang theo nhiệt. Bay hơi một lít qua đường mồ
hôi của da làm mất 600kcal nhiệt lượng của cơ thể. Trong điều kiện bình
thường, cơ thể tự làm lạnh bằng bay mồ hôi qua da, tương đương 25% năng
lượng chuyển hóa cơ bản. Khi mất 350 đến 700ml/ngày trong điều kiện
nhiệt độ, độ ẩm bình thường được gọi là bài tiết mồ hôi không cảm thấy.
Chất
béo dưới da làm giảm tốc độ mất nhiệt qua da. Chức năng này có tác dụng
thuận lợi trong điều kiện thời tiết lạnh, nhưng bất lợi trong điều kiện
nóng. Tốc độ tỏa nhiệt còn phụ thuộc vào tốc độ lưu thông và thể tích
của máu đi tới bề mặt của da. Khi cơ thể quá nóng, những mao mạch dưới
da giãn nở, làm tăng thể tích máu đi tới và làm tăng tốc độ tỏa nhiệt.
Khi cơ thể quá lạnh, các mao mạch co lại và làm giảm mất nhiệt. Trong
điều kiện nóng, những người béo cảm thấy khó chịu hơn những người không
béo do họ có lớp mỡ dưới da dày và sự tỏa nhiệt từ các mao mạch dưới da
bị cản trở.
Ngoài ra nước còn cung cấp nguồn chất khoáng cho cơ thể:
Nước
mà chúng ta sử dụng hàng ngày thường chứa một lượng đáng kể các chất
khoáng: Canxi, Magie, Natri, Đồng, Flo. Tỷ lệ các chất khoáng này phụ
thuộc vào nguồn nước và các nhà sản xuất. Nước cứng là nước có chứa 50mg
canxi và 120mg magie/l, nước mềm là nước có chứa thấp hơn các chất
khoáng trên nhưng lượng natri cao hơn 250mg/l. Tiêu thụ nước cứng có
liên quan đến việc giảm các bệnh tim mạch. Nước mềm có chứa natri cao
nên khi tiêu thụ nước mềm có nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp và tim mạch.
Vì nước là dung môi hòa tan nhiều chất khoáng, nó cũng là dung môi mang
nhiều chất độc hại như chì, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp. Do
vậy, việc theo dõi, giám sát chất lượng nước cung cấp cho cơ thể rất
quan trọng để bảo vệ sức khỏe.
Tóm
lại, nước có tác dụng rất tốt cho sức khỏe con người nếu các bạn có
hiểu biết về vai trò của nước và sử dụng nước một cách khoa học.

Uống
đúng và đủ nước mỗi ngày sẽ giúp cơ thể bạn đỡ mệt mỏi, tinh thần minh
mẫn, giảm táo bón, phòng sỏi tiết niệu, cải thiện lưu lượng máu, giữ ẩm
cho da, giúp làn da của bạn mịn màng, giảm được thèm ăn dự phòng bệnh
béo phì…